Nhà thơ Bạch Cư Dị - Tỳ bà hành

Thứ tư - 16/02/2022 08:35
Đoạn cuối của bài thơ khi miêu tả về sự chán nản của người ca nữ, Bạch Cư Dị đã liên tưởng về nỗi khổ của chính mình. Nhà thơ cùng người ca nữ đều là những "kẻ luân lạc ở chốn chân trời", cả hai đều sở hữu những kỹ năng đặc biệt và tài hoa phi phàm, nhưng lại bị đãi ngộ bất công và bị hệ thống phong kiến bỏ rơi và bóp nghẹt. Bài thơ đã thổ lộ một cách mãnh liệt sự đau buồn và phẫn nộ của nhà thơ trước sự hạ bệ đáng tiếc của bản thân và những khát vọng không được đáp lại. "Cùng là kẻ luân lạc ở chốn chân trời; gặp gỡ nhau đây hà tất đã từng quen biết" được nêu trong lời tựa của tác giả. Những nội dung triết học hấp dẫn chứa bên trong, đã được truyền tụng trong hàng ngàn năm. "Ở nơi đây sáng chiều nghe được những gì; có tiếng cuốc khóc ra máu và tiếng vượn hú bi ai", hai hình ảnh chim cuốc gáy ra máu và vượn hú bi ai, tức cảnh sinh tình, cho thấy nỗi nhớ quê hương của nhà thơ khi sống nơi đất khách quê người
a BCDij
a BCDij

Tỳ bà hành

Tỳ bà hành
CMOC Treasures of Ancient China exhibit - Pi Pa Xing in running script, top view.jpg
Thư pháp Tỳ bà hành của Văn Trưng Minh theo lối hành thư (行書)
  琵琶行
  "Khúc hát tỳ bà"
 

"Tỳ bà hành" (tiếng Trung: 琵琶行; bính âmPípá xíng) là nhan đề của một bài thơ dài 616 chữ thuộc thể loại thất ngôn trường thiên của Bạch Cư Dị, một trong những thi nhân nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc sống vào thời nhà Đường. Bài thơ được sáng tác vào năm Nguyên Hòa thứ 11 đời Đường Hiến Tông (tức năm 816).[3]

Thông qua việc miêu tả kỹ nghệ tấu đàn cao siêu cùng cuộc đời truân chuyên của người con gái ca kĩ Đàn tỳ bà, bài thơ đã phơi trần sự mục nát của quan lại trong xã hội phong kiến, sự suy thoái về sinh kế của nhân dân và sự chôn vùi của tài năng. Bài thơ biểu đạt sự đồng tình và lòng cảm thương sâu sắc của thi nhân đối với người con gái chơi tỳ bà, nhưng cũng đồng thời biểu đạt tâm trạng phẫn uất của ông khi bị giáng chức.Tác giả đã đưa số phận một nữ nghệ nhân tỳ bà thuộc tầng lớp dưới trong xã hội phong kiến ra để bàn chung cùng số phận một phần tử trí thức chính trực bị chèn ép, khiến chúng bổ sung, soi sáng cho nhau, lại miêu tả sinh động tinh tế đến dường ấy và gửi gắm vào đấy sự đồng tình vô hạn, đó là điều hiếm thấy trong thi ca trước đó.

Tại Việt Nam, bài thơ được biết đến thông qua bản diễn nôm "Tỳ Bà hành diễn âm khúc" của Phan Huy Thực. Bản dịch này tuy áp dụng thể thơ "song thất lục bát" nhưng vẫn giữ nguyên số chữ như nguyên văn tác phẩm, được đánh giá là một trong những tuyệt tác dịch thuật của nền văn học Việt Nam.

Bối cảnh sáng tác

Vào tháng 6 năm Nguyên Hòa thứ 10 (815), các thế lực phiên trấn nhà Đường phái thích khách đến đường phố Trường An ám sát tể tướng Võ Nguyên Hoành và làm trọng thương Trung thừa ngự sử Bùi Độ, khiến triều chính trở nên hỗn loạn. Các thế lực phiên trấn lại tiến tiếp một bước, đưa ra yêu cầu bãi miễn Bùi Độ, mới có thể dẹp an ý đồ phản trắc của họ. Bạch Cư Dị dâng tấu chương yêu cầu Đường Hiến Tông phải nghiêm trị hung thủ, khiến ông bị nghi ngờ "vượt quá quyền hạn của mình". Bạch Cư Dị vốn xưa nay thường làm thơ phúng dụ, đắc tội với nhiều nhân vật quyền quý trong triều nên những người này nhân cơ hội này đày ông đi làm Tư mã ở Giang Châu. Chức vụ Tư mã là trợ thủ của các quan Thứ sử. Vào thời trung kỳ nhà Đường, chức vụ này thường được sắp xếp cho các quan viên "phạm tội" – một kiểu loại bỏ kẻ thù chính trị trá hình. Sự cố này đã ảnh hưởng lớn đến Bạch Cư Dị và đó là một bước ngoặt trong cách suy nghĩ của ông. Kể từ thời điểm này, tinh thần đấu tranh xưa kia của ông đã dần dần trở nên phai nhạt và những cảm xúc tiêu cực dần dâng trào. Mùa thu năm Nguyên Hòa thứ 11 (816), Bạch Cư Dị lúc này đã bị giáng chức làm Tư mã ở Giang Châu đã 2 năm, trong lúc đêm tối tiễn biệt khách bên sông Tầm Dương, ông tình cờ nghe thấy tiếng đàn tỳ bà lúc thánh thót văng vẳng, lúc biến hóa lâm ly, lúc dạt dào xúc động xao xuyến, lúc ngưng bặt luyến tiếc phát ra từ một chiếc thuyền lơ lửng trôi gần đó. Ông đáp thuyền và phát hiện ra tiếng đàn được chơi bởi một người ca nữ với một thân phận chìm nổi, truân chuyên. Đồng cảm với cảnh ngộ của người kỹ nữ, ngẫm đến sự nghiệp long đong của mình, ông đã viết Tỳ bà hành, mô tả tiếng đàn để qua đó nói lên tâm trạng u uất, sầu thương, buồn thảm của kiếp người trong thời buổi bất an.

Nội dung


Tỳ bà hành đồ (琵琶行圖) của Quách Hủ đời nhà Minh

Tỳ bà hành có thể được chia ra làm ba đoạn. Từ đầu bài đến khúc "Thuyền mảng đông tây lặng im, không một tiếng nói; Chỉ thấy vầng trăng thu rọi sáng giữa sông" là đoạn thứ nhất, thuật lại cuộc gặp gỡ tình cờ với người con gái chơi tỳ bà và những kỹ năng tấu đàn tuyệt hảo của nàng. Nhà thơ tiễn khách ở đầu sông, gió thu đìu hiu một cách sầu não. Chủ khách nói lời chia tay, rượu không làm cho họ vui vẻ, trên thực tế, mượn rượu để giải sầu chỉ khiến họ càng sầu thêm. Vào giờ khắc đó, tiếng đàn tỳ bà văng vẳng đâu đây một cách mơ hồ khiến chủ và khách bị thu hút. Từ việc miêu tả bằng hữu nói lời tạm biệt đến việc khơi gợi âm thanh đàn tỳ bà cùng người chơi nó, sự chuyển giao là vô cùng tự nhiên và khéo léo. Đồng thời, nó cũng làm nổi bật kỹ thuật biểu diễn phi thường của người nghệ nhân và sự xuất hiện của nàng ấy: "Tiếng tỳ bà im bặt, muốn nói mà còn [ngại ngùng] trì hoãn" – chữ "trì hoãn" hay "trì" (遲) biểu hiện sự do dự không quyết của nghệ nhân tỳ bà, hình như mang trong mình nỗi khổ âm thầm; rồi đến câu "Gọi đến ngàn lần vạn lần mới bước ra, tay ôm tỳ bà che khuất nửa gương mặt"[c] miêu tả dáng vẻ xấu hổ của người con gái một cách sinh động, khéo léo, trở thành một câu nói được lưu truyền thiên cổ. Đồng thời, nó cũng ngụ ý rằng nàng là một nghệ nhân dãi dầu sương gió, đã từng gặp nhiều gặp trắc trở bất hạnh. Quả nhiên, sau khi điều chỉnh dây đàn để thử nhiều lần, "dây nào cũng nghẹn ngào, tiếng nào cũng có, bày tỏ nỗi bất đắc chí trong cuộc đời",[d] dây đàn âm thanh trầm thấp, dường như người chơi cố tình che giấu và kìm nén cảm xúc ngột ngạt bên trong của mình. Mỗi cái dây cung đều phát ra âm thanh sâu lắng và u uất, mọi âm thanh đều chứa đựng nỗi ai oán vô hạn. Những ca từ này sẽ mở đường cho việc mô tả trải nghiệm cuộc đời bất hạnh của nghệ nhân tỳ bà.

Bài thơ mở đầu bằng việc người con gái thử đàn, từng bước dẫn dắt người đọc hòa vào tình cảnh ưu mỹ của khúc nhạc. Kỹ nghệ của nàng tinh xảo thần diệu, bằng hai câu "Hạ thấp lông mày cứ gảy cứ gảy mãi, giãi bày hết tâm sự vô cùng hạn", nhà thơ đã mô tả kỹ thuật thành thạo của cô gái. Bởi vì được tập luyện nghiêm chỉnh, mà cô gái hoàn toàn hòa mình vào với nhịp điệu, kỹ năng tấu đàn có thể được mô tả là hoàn hảo. Nhà thơ sau đó sử dụng các phép ẩn dụ phức tạp, mạch lạc, phù hợp và đẹp đẽ để mô tả sinh động vẻ đẹp của âm thanh và những thay đổi trong nhịp điệu đàn tỳ bà. "Ào ào như mưa rào""nỉ non như tỉ tê chuyện riêng""hạt châu [...] rắc vào trong mân ngọc""chim oanh giọng [líu lo] qua lại trong hoa", là một loạt những ẩn dụ tinh tế dường như khiến người đọc đắm chìm vào tác phẩm. Về phần tiếng nhạc trầm ngừng như "suối nước bỗng lạnh đông" rồi bước vào cao trào như "tiếng nước bắn tung ra khỏi thành bình bạc vị phá vỡ", như "đoàn quân thiết kỵ ào ào đến" và âm thanh ở cuối khúc nhạc "vang lên [...] như lụa xé", là những câu thơ ví von lạ lùng, trong đó "hạt châu lớn hạt châu nhỏ rắc vào trong mân ngọc" không chỉ khiến mọi người thấy được sự rõ nét của âm thanh mà còn cảm giác được tiếng nhạc mượt mà như ngọc châu. Kết thúc phân đoạn này là câu thơ "thuyền mảng đông tây lặng im, không một tiếng nói; chỉ thấy vầng trăng thu rọi sáng giữa sông", giải thích hiệu ứng chuyển động của âm thanh và khiến mọi người say sưa trong bầu không khí nghệ thuật được tạo ra bởi âm thanh đàn tỳ bà.


Chân dung Bạch Cư Dị

Đoạn thứ hai bắt đầu từ "nàng trầm ngâm gỡ phím, cài vào giữa các dây đàn; sửa gọn xiêm áo lại, đứng dậy chỉnh vẻ mặt" và kết thúc ở "đến khuya bỗng mộng thấy lại thời trẻ trung; trong mộng thấy khóc nhoè má hồng phấn son", trong đó người nghệ nhân than vãn về những trải nghiệm cay đắng và nỗi bất hạnh hiện tại của mình. Đánh giá từ câu chuyện của người con gái, nàng đã từng là một nghệ nhân tài sắc vẹn toàn. Lúc tuổi còn trẻ, các công tử phú quý ở Ngũ Lăng tranh nhau tặng quà cho nàng. Vào thời điểm đó, nàng trên đầu đeo vành lược bạc, cành trâm vàng, dùng tay gõ nhịp khi hát và nhảy, thân trên tương ứng rung động, đồ trang sức có khi rơi xuống đất mà vỡ tan; hoặc mặc quần lụa màu huyết dụ, ngày ngày cùng các chàng trai trẻ vừa ăn vừa cười, để rượu đổ ra làm hoen ố quần áo, cũng không cảm thấy qua đáng tiếc. Xuân hoa thu nguyệt, ngày tốt cảnh đẹp, cứ như vậy mà trôi qua, năm này qua năm khác, nhưng vinh quang dễ qua đi, ngoại hình dễ già đi – một nghệ sĩ già và mờ nhạt chẳng còn thu hút được ai. "Thưa thớt đi ngựa xe" là một bức chân dung khắc họa những năm cuối đời của nhiều nghệ nhân ca múa, trong đó có người con gái chơi tỳ bà, dưới thời kỳ phong kiến. Vì vậy, cuối cùng mà nàng "cũng có tuổi rồi mới làm vợ người lái buôn" và ký thác phần còn lại của cuộc đời nàng vào người thương gia. Tuy nhiên, một nghệ nhân già đã đánh mất hoa dung nguyệt mạo há có thể trói buộc trái tim của một thương nhân coi trọng lợi nhuận và coi thường tình yêu. Kết quả là, "người lái buôn chỉ tham lợi, coi thường biệt ly", người đàn ông rời khỏi nhà để lo chuyện, để người phụ nữ ở lại một mình trong phòng khuê trống rỗng, một lần nữa trở thành kết thúc không thể tránh khỏi của họ. Nàng muốn kết hôn với ai đó để tìm một mái ấm và mong muốn được an ủi tâm hồn lại một lần nữa. Nhà thơ kết thúc phân đoạn này bằng "đến khuya bỗng mộng thấy lại thời trẻ trung; trong mộng thấy khóc nhoè má hồng phấn son", ban ngày nếu có chút suy nghĩ, về đêm sẽ mơ về cái đó. Cái gọi là "giấc mơ bất chợt" không phải là ngẫu nhiên. "Khóc trong mộng" cũng là sự tái hiện những cảm xúc hàng ngày. Nhớ lại những sự kiện cay đắng trong quá khứ, đối mặt với trải nghiệm đau đớn hiện tại, nàng không khỏi nước mắt tuôn đầy mặt, "ướt nhoè má hồng phấn son".

Đoạn cuối của bài thơ khi miêu tả về sự chán nản của người ca nữ, Bạch Cư Dị đã liên tưởng về nỗi khổ của chính mình. Nhà thơ cùng người ca nữ đều là những "kẻ luân lạc ở chốn chân trời", cả hai đều sở hữu những kỹ năng đặc biệt và tài hoa phi phàm, nhưng lại bị đãi ngộ bất công và bị hệ thống phong kiến bỏ rơi và bóp nghẹt. Bài thơ đã thổ lộ một cách mãnh liệt sự đau buồn và phẫn nộ của nhà thơ trước sự hạ bệ đáng tiếc của bản thân và những khát vọng không được đáp lại. "Cùng là kẻ luân lạc ở chốn chân trời; gặp gỡ nhau đây hà tất đã từng quen biết" được nêu trong lời tựa của tác giả. Những nội dung triết học hấp dẫn chứa bên trong, đã được truyền tụng trong hàng ngàn năm. "Ở nơi đây sáng chiều nghe được những gì; có tiếng cuốc khóc ra máu và tiếng vượn hú bi ai", hai hình ảnh chim cuốc gáy ra máu và vượn hú bi ai, tức cảnh sinh tình, cho thấy nỗi nhớ quê hương của nhà thơ khi sống nơi đất khách quê người. Khi người ca nữ tấu đàn lần thứ hai, nhà thơ đã không kìm được nước mắt, khóc "ướt đẫm vạt áo xanh". Cái gọi là "hết những người trong tiệc nghe lại đều che mặt khóc" miêu tả âm thanh làm lay động lòng người, một miêu tả chi tiết về màn diễn tấu của người ca nữ ở phân đoạn thứ hai, mà "Tư mã Giang Châu ướt đẫm vạt áo xanh", cho thấy tác giả cũng chính là người đã khóc nhiều nhất, đồng cảm cùng "kẻ luân lạc ở chốn chân trời". Từ nỗi bất hạnh của người ca nữ, tác giả đã cảm nhận được nỗi đau bị giáng chức của bản thân, ông khóc cho cuộc đời bất hạnh của người khác nhưng cũng khóc cho sự khó khăn trong khát vọng của bản thân.
Tỳ Bà hành
Nguyên tác: Bạch Cư Dị


Bạch Cư Dị (chữ Hán白居易) (772-846) tự là Lạc Thiên (樂天), hiệu là Hương Sơn cư sĩ là nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng thời nhà Đường. Tác phẩm nổi tiếng của Bạch Cư Dị ở Việt Nam có lẽ là bài Tỳ bà hànhTrường Hận Ca.
Tổ tiên ông là người gốc Thái NguyênSơn Tây, sau di cư tới huyện Vị NamThiểm Tây. Ông là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Đối với một số người yêu thơ văn thì người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ. Mười lăm tuổi ông đã bắt đầu làm thơ, thuở nhỏ nhà nghèo, ở thôn quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động.
Năm Trinh Nguyên thứ 16 (năm 800), ông thi đỗ tiến sĩ được bổ làm quan trong triều, giữ chức Tả thập di. Do mâu thuẫn với tể tướng Lý Lâm Phủ, ông chuyển sang làm Hộ Tào tham quân ở Kinh Triệu. Năm Nguyên Hòa thứ 10 (815), do hạch tội việc tể tướng Vũ Nguyên Hành bị hành thích và ngự sử Bùi Độ bị hành hung, nhóm quyền thần cho là ông vượt qua quyền hạn, đày làm tư mã Giang Châu. Giai đoạn tuừ năm 821 tới năm 824 làm thứ sử Hàng Châu, năm 825 làm thứ sử Tô Châu, sau được triệu về kinh làm Thái Tử thiếu phó. Năm Hội Xương thứ 2 (842) về hưu với hàm thượng thư bộ Hình, sau mất tại Hương Sơn, Lạc Dương.
Những năm đầu, ông cùng Nguyên Chuẩn ngâm thơ, uống rượu, được người đời gọi là Nguyên Bạch. Sau này, khi Nguyên Chuẩn mất, lại cùng Lưu Vũ Tích, hợp thành cặp Lưu Bạch. Người đời tôn xưng ông là Thi Ma.
Ông chủ trương đổi mới thơ ca. Cùng với Nguyên Chẩn, Trương TịchVương Kiến, ông chủ trương thơ phải gắn bó với đời sống, phản ánh được hiện thực xã hội, chống lại thứ văn chương hình thức. Ông nói: "Làm văn phải vì thời thế mà làm... Làm thơ phải vì thực tại mà viết", mục đích của văn chương là phải xem xét chính trị mà bổ khuyết, diễn đạt cho được tình cảm của nhân dân. Thơ ông mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm biếm nhẹ nhàng kín đáo. Trường hận ca để nói mối tình đẹp của Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi, nhưng đọc kỹ thì những ý châm biếm, mỉa mai kín đáo đều có. Ông cùng Nguyên Chẩn đề xướng phong trào Tân Nhạc Phủ, nên trong thơ, ông luôn công kích đời sống xa hoa dâm dật của bọn quý tộc, bóc trần sự bóc lột của bọn quan lại, thông cảm với nỗi thống khổ của dân chúng (Tần Trung Ngâm, Tân Nhạc Phủ).
Thơ ông thấm nhuần tư tưởng nhân đạo, nhân văn. Ông hòa đồng cùng dân chúng, không coi việc làm quan của mình là gì, mà thấy mình cũng bị cuộc đời làm cho bảy nổi ba chìm chẳng khác gì người đời (Tỳ bà hành). Ông thông cảm với những thân gái chịu bao tập tục hủ bại và cảnh nghèo túng mặc dù sắc đẹp thì chẳng thua ai (Nghị hôn).
 
Ông chủ trương thơ ca phải giản dị để dân chúng đều hiểu được. Không những thế, tình cảm, tư tưởng phải giàu tính nhân dân, nói được nỗi lòng của mọi người trước thế sự. Thơ ông giàu tính trữ tình. Khi ông bị đi đày từ Tràng An đến Tây Giang, ba bốn ngàn dặm, dọc đường thấy trường học, chùa chiền, quán trọ.... đều có đề thơ của mình, nên càng tự tin ở chủ trương của mình hơn.
Riêng hai bài Tỳ Bà Hành và Trường Hận Ca đã đủ tỏ tài thơ của Bạch Cư Dị. Bằng lối kể chuyện miêu tả, với chủ đề khác nhau, hai bài thơ dài của ông, bài thì bay bướm, hình ảnh đẹp, lời bình trầm lắng, ý ngoài lời, ca tụng, mỉa mai đều kín đáo; bài thì hoà đồng vào cảnh ngộ cùng nhân vật, viết lên những tâm trạng gửi gắm của cả hai, người gẩy -người nghe, vào tiếng đàn trên bến Tầm Dương, bài thơ da diết, buồn thấm thía mà nỗi đời thì vời vợi mênh mang.
Ngoài ra ông còn làm một số bài thơ về thiên nhiên, nhàn tản. Lối nói u hoài, vương một nỗi buồn riêng kín đáo. Ông thích đàm đạo về thiền, về Lão Trang, cũng như là biểu hiện trốn đời, sau khi đã quá ngán về nhân tình thế thái. Ông để lại khoảng trên 2.800 bài thơ.

琵琶行并序
元和十年,予左遷九江郡司馬。明年秋,送客湓浦口,聞船中夜彈琵琶者,聽其音,錚錚然有京都聲;問其人,本長安倡女,嘗學琵琶於穆曹二善才。年長色衰,委身為賈人婦。遂命酒,使快彈數曲,曲罷憫然。自敘少小時歡樂事,今漂淪憔悴,轉徙於江湖間。予出官二年 恬然自安,感斯人言,是夕,始覺有遷謫意,因為長句歌以贈之,凡六百一十六言,命曰琵 琶行
Lời tựa của tác giả
Năm Nguyên Hoà thứ 10, ta về giữ chức Tư Mã ở quận Cửu giang. Qua mùa thu năm sau, đêm ra tiễn khách bên bến sông Bồn, chợt nghe thuyền ai có tiếng đàn Tỳ Bà vọng lại. Nghe trong tiếng đàn thánh thót, âm vang điệu nhạc ở kinh đô. Bèn hỏi gốc gác. Người đàn trả lời rằng: “Tôi vốn là con hát, quê ở Trường An, học đàn Tỳ Bà với hai danh sư Mục và Tào. Nay tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, lấy chồng làm con buôn [thường theo thuyền buôn đi đây đi đó]”. Nghe vậy, cho dọn rượu ra đãi, xin nàng đàn lại cho nghe. Ðàn xong cảm xúc vô vàn, nàng bèn kể lại cuộc đời mình từ lúc còn trẻ, vui sướng, cho tới lúc lưu lạc giang hồ khổ nhọc. Ta về đây làm quan đã được hai năm, thanh thản, yên ổn. Hôm nay nghe nàng nầy nói chuyện, cảm thương cho số phận lưu đày! Bèn làm một bài thơ dài tặng nàng ta, gồm 616 lời, gọi là Tỳ Bà Hành.

琵琶行
潯陽江頭夜送客
楓葉荻花秋瑟瑟
主人下馬客在船
舉酒欲飲無管絃

醉不成歡慘將別
別時茫茫江浸月
忽聞水上琵琶聲
主人忘歸客不發

尋聲暗問彈者誰
琵琶聲停欲語遲
移船相近邀相見
添酒回燈重開宴

千呼萬喚始出來
猶抱琵琶半遮面
轉軸撥絃三兩聲
未成曲調先有情

絃絃掩抑聲聲思
似訴平生不得志
低眉信手續續彈
說盡心中無限事

輕攏慢撚抹復挑
初為霓裳後六么
大絃嘈嘈如急雨
小絃切切如私語

嘈嘈切切錯雜彈
大珠小珠落玉盤
間關鶯語花底滑
幽咽泉流水下灘

水泉冷澀絃凝
絕不通聲漸歇
別有幽愁暗恨生
此時無聲勝有聲

銀瓶乍破水漿迸
鐵騎突出刀鎗鳴
曲終收撥當心畫
四絃一聲如裂帛

東船西舫悄無言
唯見江心秋月白
沈吟放撥插絃中
整頓衣裳起斂容

自言本是京城女
家在蝦蟆陵下住
十三學得琵琶成
名屬教坊第一部

曲罷曾教善才服
妝成每被秋娘妒
五陵年少爭纏頭
一曲紅綃不知數

鈿頭銀篦擊節碎
血色羅裙翻酒汙
今年歡笑復明年
秋月春風等閑度

弟走從軍阿姨死
暮去朝來顏色故
門前冷落車馬稀
老大嫁作商人婦

商人重利輕別離
前月浮梁買茶去
去來江口守空船
繞船月明江水寒

夜深忽夢少年事
夢啼妝淚紅闌干
我聞琵琶已嘆息
又聞此語重唧唧

同是天涯淪落人
相逢何必曾相識
我從去年辭帝京
謫居臥病潯陽城

潯陽地僻無音樂
歲不聞絲竹聲
住近湓江地低濕
黃蘆苦竹繞宅生

其間旦暮聞何物
杜鵑啼血猿哀鳴
春江花朝秋月夜
往往取酒還獨傾

豈無山歌與村笛
嘔啞嘲哳難為聽
今夜聞君琵琶語
如聽仙樂耳暫明

莫辭更坐彈一曲
為君翻作琵琶行
感我此言良久立
卻坐促絃絃轉急

淒淒不似向前聲
滿座重聞皆掩泣
座中泣下誰最多
江州司馬青衫濕

Tỳ Bà Hành
Tầm Dương giang đầu dạ tống khách

Phong diệp địch hoa thu sắt sắt
Chủ nhân há mã khách tại thuyền
Cử tửu dục ẩm vô quản huyền
Túy bất thành hoan, thảm tương biệt
Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt
Hốt văn thủy thượng tỳ bà thanh
Chủ nhân vong quy khách bất phát
Tầm thanh ám vấn đàn giả thùy ?
Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì
Di thuyền tương cận yêu tương kiến
Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến
Thiên hô vạn hoán thủy xuất lai
Do bão tỳ bà bán già diện
Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh
Vị thành khúc điệu, tiên hữu tình
Huyền huyền yểm ức, thanh bình tứ
Tự tố bình sinh bất đắc chí
Đê mi tín thủ tục tục đàn
Thuyết tận tâm trung vô hạn sự
Khinh lung mạn nhiên mạt phục khiêu
Sơ vi “Nghê thường”, hậu “Lục yêu”
Đại huyền tao tao như cấp vũ
Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ
Tao tao thiết thiết thác tạp đàn
Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn
Gian quan oanh ngữ hoa để hoạt
U yết tuyền lưu thủy há than
Thủy tiền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt
Ngưng tuyệt bất thông thanh tạm yết
Biệt hữu u tình ám hận sinh
Thử thời vô thanh thắng hữu thanh
Ngân bình sạ phá thủy tương bỉnh
Thiết kỵ đột xuất đao thương minh
Khúc chung thu bát đương tâm hoạch
Tứ huyền nhất thanh như liệt bạch
Đông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn
Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch
Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung
Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung
Tự ngôn: “Bản thị kinh thành nữ
Gia tại Hà Mô lăng hạ trú
Thập tam học đắc tỳ bà hành
Danh thuộc giáo phường đệ nhất bộ
Khúc bãi tằng giao Thiện Tài phục
Trang thành mỗi bị Thu Nương đố
Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu
Nhất khúc hồng tiêu bất tri số
Điền đầu ngân tì kích tiết toái
Huyết sắc la quần phiên tửu ố
Kim niên hoan tiếu phục minh niên
Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ
Đệ tẩu tòng quân, a di tử
Mộ khứ, triêu lai nhan sắc cố
Môn tiền lãnh lạc xa mã hí
Lão đại giá tác thương nhân phụ
Thương nhân trọng lợi, khinh biệt ly
Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ ?
Khứ lại giang khẩu thủ không thuyền
Nhiễu thuyền nguyệt minh, giang thủy hàn
Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự
Mộng đề trang lệ hồng lan can “
Ngã văn tỳ bà dĩ thán tức
Hựu văn thử ngữ trùng tức tức
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân
Tương phùng hà tất tằng tương thức
”Ngã tòng khứ niên từ đế kinh
Trích cư ngọa bệnh Tầm Dương thành
Tầm Dương địa tịch vô âm nhạc
Chung tuế bất văn ty trúc thanh
Trú cận Bồn Giang địa đê thấp
Hoàng lô khổ trúc nhiễu trạch sinh
Kỳ gian đán mộ văn hà vật
Đỗ quyên đề huyết viên ai minh
Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ
Vãng vãng thủ tửu hoàn độc khuynh
Khởi vô sơn ca dữ thôn địch
Ẩu á trào triết nan vi thính
Kim dạ văn quân Tỳ bà ngữ
Như thính tiên nhạc nhĩ tạm minh
Mạc từ cánh tọa đàn nhất khúc
Vị quân phiên tác tỳ bà hành “
Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập
Khước tọa xúc huyền, huyền chuyển cấp
Thê thê bất tự hướng tiền thanh
Mãn tọa trùng văn giai yểm khấp
Tọa trung khấp hạ thùy tối đa ?
Giang Châu tư mã thanh sam thấp
 Bạch Cư Dị
Bản dịch thơ của Phan Huy Vịnh: 
Tỳ Bà Hành
Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu
Người xuống ngựa, khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ti
Say những luống ngại khi chia rẽ
Nước mênh mông đượm vẻ gương trong
Đàn ai nghe vẳng bên sông
Chủ khuây khỏa lại  khách dùng dằng xuôi
Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá ?
Dừng dây tơ nấn ná làm thinh
Dời thuyền ghé lại thăm tình
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui
Mời mọc mãi, thấy người bỡ ngỡ
Tay ôm đàn che nửa mặt hoa
Vặn đàn mấy tiếng dạo qua
Dẫu chưa nên khúc, tình đà thoảng hay
Nghe não nuột mấy dây buồn bực
Dường than niềm tấm tức bay lâu
Mày chau tay gẩy khúc sầu
Dãi bầy hết nỗi trước sau muôn vàn
Ngón buông, bắt khoan khoan dìu dặt
Trước Nghê thường sau thoắt Lục Yêu:
Dây to nhường đổ mưa rào
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng
Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu
Trong hoa oanh ríu rít nhau
Nước tuôn róc rách, chảy mau xuống ghềnh
Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt
Ngừng đứt nên phút bật tiếng tơ
Ôm sầu, mang giận ngẩn ngơ
Tiếng tơ lặng ngắt, bây giờ càng hay
Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước
Ngựa sắt giong, xô xát tiếng đao
Cung đàn trọn khúc thanh tao
Tiếng buông xé lựa, lưạ vào bốn dây
Thuyền mấy lá đông tây lạnh ngắt
Một vầng trăng trong vắt lòng sông
Ngậm ngùi đàn bát xếp xong
Áo xiêm khép nép hầu mong dãi nhời
Rằng: “Xưa vốn là người kẻ chợ
Cồn Hà Mô trú ở lân la
Học đàn từ thuở mười ba
Giáo phường đệ nhất sổ đà chép tên
Gã Thiện tài sợ phen dừng khúc
Ả Thu nương ghen lúc điểm tô
Ngũ Lăng, chàng trẻ ganh đua
Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn
Vành lược bạc gãy tan dịp gõ
Bức quần hồng hoen ố rượu rơi
Năn năm lần lữa vui cười
Mải trăng gió chẳng đoái hoài xuân thu
Buồn em trảy, lại lo dì thác
Sầu hôm mai đổi khác hình dung
Cửa ngoài xe ngựa vắng không
Thân già mới kết duyên cùng khách thương
Khách trọng lợi khinh thường ly cách
Mải buôn chè sớm tếch nguồn khơi
Thuyền không, đậu bến mặc ai
Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng
Đêm khuya, sực nhớ vòng tuổi trẻ
Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen
Nghe đàn ta đã trạnh buồn
Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy nhời :
” Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau
Từ xa kinh khuyết bấy lâu
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai
Chốn cùng tịch lấy ai vui thích
Tai chẳng nghe đàn địch cả năm
Sông Bồn gần chốn cát lầm
Lau vàng, trúc võ, âm thầm, quanh hiên
Tiếng chi đó nghe liền sớm tối
Cuốc kêu sầu, vượn nói nỉ non
Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn
Lần lần tay chuốc chén son ngập ngừng
Há chẳng có ca rừng, địch nội ?
Giọng líu lo, buồn nỗi khó nghe
Tỳ bà nghe dạo canh khuya
Dường như tiên nhạc gần kề bên tai
Hãy ngồi lại gẩy chơi khúc nữa
Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca“
Đứng lâu dường cảm lời ta
Lại ngồi lựa phím đàn đà kíp dây
Nghe não nuột khác tay đàn trước
Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi
Lệ ai chan chứa hơn người ?
Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê
  • Đang truy cập9
  • Hôm nay2,389
  • Tháng hiện tại2,533
  • Tổng lượt truy cập8,291,323
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây