Triệu Nguyễn Gửi Đỗ Hoàng

Thứ sáu - 01/01/2021 01:01
Quảng Ninh ngày 25 – 4 – 2008

KÍNH GỬI NHÀ THƠ ĐỖ HOÀNG

Mình gửi Nhà thơ bài thơ của mình nhân đọc bài viết “Vì sao…” của Đỗ Hoàng. Bài viết của Đỗ Hoàng rất hóm, rất thú. Cám ơn nhà thơ đã gợi cho mình cảm xúc…
Tùy Đỗ Hoàng có thể dùng hoặc không. Chúc nhà thơ khỏe, mọi điều như ý.
Thân mến
(Đã ký)


Triệu Nguyễn
Triệu Nguyễn Gửi Đỗ Hoàng
Triệu Nguyễn Gửi Đỗ Hoàng

                                   Quảng Ninh ngày 25 – 4 – 2008

                       KÍNH GỬI NHÀ THƠ  ĐỖ HOÀNG

     Mình gửi Nhà thơ bài thơ của mình nhân đọc bài viết “Vì sao…” của Đỗ Hoàng. Bài viết của Đỗ Hoàng rất hóm, rất thú. Cám ơn nhà thơ đã gợi cho mình cảm xúc…
 Tùy Đỗ Hoàng có thể dùng hoặc không. Chúc nhà thơ khỏe, mọi điều như ý.
                                                                            Thân mến
                                                                             (Đã ký)
   

                                                                             Triệu Nguyễn

Triệu Nguyễn
THƠ VUI GỬI BẠN NHÀ THƠ
Tặng ĐH, nhân đọc bài viết “Vì sao
Tôi dịch thơ Việt ra thơ Việt” của bạn

Sẵn nghề “trích cú, tầm chương”
Sao không kén Tống, chọn Đường mà chơi?
Khen thay bác Đỗ, bạn tôi
Lại đi dịch cái dở hơi – thơ nhà!

“Con” mình mang họ người ta
Mình là bố dượng hay là cha nuôi?
Công mình dù gấp mấy mươi
Tránh sao khẩu chiến ở nơi công đường

Tình thơ chín đỏ, môi hường
Càng yêu, càng thấy ẩm ương, rầy rà
Có lúc thơ như nhành hoa
Gần thi thắm thiết, lùi xa nhạt nhèo
Có khi như nước ao bèo
Nhạt hương mà vẫn trong veo, thầm thào
Vòm thơ chót  vót giời cao
Người ra làm bố, kẻ vào là con!

Đêm thơ trăng lặn tối om
Đèn thơ ai thắp đỏ lòm bấy ai?
Làng thơ mấy vị tranh tài
Văn chương “ơ ất”, hình hài “ất ơ” (*)

Tuổi già cả nghĩ hay lo
Cảm phiền bác Đỗ dịch cho đôi vần… (**)
Tháng 4 năm 2008
Tr – Ng
--
(*) Mượn chữ Đỗ Hoàng
“Họ làm xiếc chữ ất ơ
Thế mà được đặt lên thơ thiêng liêng”
(**) Bài in trên Tạp chí Nhà văn tháng 3 năm 2008
Miền Cát Trắng viết:
Nhà thơ Đỗ Hoàng được coi là một hiện tượng đặc biệt của đời sống thi ca Việt đương đại,ông có tầm kiến văn sâu rộng và lý luận sắc sảo,ông rất bản lĩnh, k thiên kiến mà đầy chủ kiến,vì thế ông đã tạo ra một cách nhìn sắc lạnh trước những trào lưu,xu hướng sáng tác,những luồng gió mới xô bồ của cái gọi là "hậu hậu hiện đại " và xử lý nó theo cách của riêng ông ,đó là dịch thơ Việt ra thơ Việt,một việc chưa ai làm thế bao giờ.
Qua đó,cho ta thấy tài dịch thơ của Đỗ Hoàng được ví như cỗ máy nghiền sinh tố,nghiền nát tất cả mọi thứ trái cây và cho ra những "ly sinh tố rất Đỗ Hoàng" dể uống cho mọi đối tượng độc giả, một việc làm không hề đơn giản.

Nguyn Tâm Nhâm Một Do Hoang văn sĩ uyên thâm sâu rộng khí phách như bậc trượng phu ,làm lòng tin người yêu thơ văn sáng láng


             Giữ gìn sự trong sáng thơ Việt     

      VÌ SAO TÔI DỊCH “THƠ VIỆT” RA THƠ VIỆT

                                 Đỗ Hoàng
 
    Tôi không phải là nhà phê bình chuyên nghiệp, nên thấy thơ thích là đọc, không thích thì thôi. Hơn nữa tôi là người làm thơ, mà thơ thì trăm người trăm vẻ, người thích kiểu này, người thích kiểu kia, không ai giống ai. Mình chê thơ người ta thì khác nào chị hàng cá nguýt chị hàng thịt. Vậy nên khi các kiểu thơ đua nhau ra đời, thậm chí có tác giả thơ được lăng xê này nọ hoặc đoạt những giải thưởng do nhiều tổ chức trao tặng, tôi vẫn mảy may làm im.
  Nhưng rồi càng ngày càng thấy nhiều người sa đà vào viết kiểu thơ tắc tỵ hoặc dài dòng văn tự, dây cà ra dây muống ( tức là đa ngôn ) thơ không vẫn, không điệu, không giống Việt, cũng chẳng ra Tàu, ra Tây. Thơ họ giống như người nước ngoài học 100 tiết tiếng Việt làm thơ Việt, cũng như chúng ta học 100 tiết tiếng Anh làm thơ tiếng Anh! Ấy vậy mà cũng có người hết lời ca ngợi xem đó là cách tân, đổi mới thơ Việt. Thật ra khi đọc kỹ thì thấy những người viết ấy chẳng có gì là cách tân, đổi mới, họ chỉ khuấy nước đục lên để không ai biết cái ao thơ của họ quá cạn mà thôi. Họ càng làm tắc tỵ để càng nhiều người không hiểu, để họ càng “thiên tài”.
     Lại thêm nhiều người viết ca ngợi. Tôi thấy không đúng.  Người không hiểu thơ, ca ngợi đã đành; người hiểu thơ cũng vì thế này, thế nọ mà ca ngợi là không được!. Cái hại cuói cùng không phải người làm thơ đích thực mà hại cho người đọc. Người đọc hoang mang không biết định hướng thế nào, đâu là thật, đâu là giả, vàng thau lẫn lộn! Họ hoang mang vì họ thấy những nhà phê bình có tên tuổi khen, những nhà thơ có thương hiệu khen. Như vậy thật là bất công.
  Tôi thấy tôi phải làm một việc gì đó họa may cung cấp một thông tin chính xác cho người đọc về cái gọi là “ Thơ ” đang ngự trị văn đàn.. Tôi chẳng có diễn đàn nào, thôi chỉ có cách duy nhất là dịch nó ra thơ Việt, vừa cho mình hiểu biết đâu có người nào đó hiểu cũng được, thế là mừng rồi! Rồi đi đọc chui, xuất bản “miệng”!
  Dịch những kiểu viết trên ra thơ Việt, tôi cũng áy náy lắm! Không cứ là thơ mà mọi điều trong cuộc sống đều phải luôn luôn mới, không có đổi mới tức là sự sống bị ngừng trệ! Nhưng đổi mới như thế nào?
    Bố mẹ để cho cái nhà, mình chỉ xây thêm một gác nhỏ là mới rồi.; chứ bỏ nó đi rồi ra đồng che một túp rạ cũng gọi là mới sao? Chỉ cần một cơn gió nhẹ thì túp lều ấy bay ra thành bụi. Chưa nói đến chó sủa, mèo kêu cũng hoảng hồn! Rồi còn bọn trộm cướp đầy đường, đầy chợ!
     Nhà thơ Hàn Mặc Tử có viết: “ Vẫn biết nghệ thuật chuộng ở sự tiến bộ, sự hoàn toàn từ tinh thần đến hình thức của bài thơ, song le ta không quên rằng, thơ của ta là thơ Quốc âm. Ta phải giữ đúng tinh thần Việt Nam của ta. Hơn nữa cái tinh thần phương Đông là nhờ ở cái đẹp kín đáo, cái tình sâu sắc, cái buồn thấm thía.”
  Ngay cả cổ nhân cũng dạy: “Công phu thâm xứ thi bình dị” ( Thơ đạt đến chỗ thâm hậu công phu hay nhất vẫn là thơ rất bình dị ).
  Trên thế giới này chưa có một nhà thơ thiên tài nào tự mình tạo ra được một hình thức của thơ kể cả Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Tô Đông Pha, Lục Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Puskin…
   Bỡi vì hình thức thơ của một dân tộc phải trải qua hàng nghìn năm mới có. Dân tộc ta cũng vậy mà các dân tộc trên thế giới cũng thế.
  Rồi còn vần điệu. Những câu có vần điệu chưa phải là thơ. Nhưng đã là thơ có vần điệu thì đạt đến mức tuyệt bích.  Từ khi mới có loài người, các tộc người chưa có quá  một nghìn từ để trao đổi đã có thơ không vần. Loài người tìm ra vần điệu trong ngôn ngữ chẳng khác nào trong cuộc đời mình loài người tìm ra lửa. Trong tiến trình lịch sử tiến lên, thơ không vần điệu bị loại bỏ, chỉ còn thơ có vần điệu. Nhưng thời hiện đại, khi tư duy con người phát triển, những suy nghĩ đột phá, những ý tưởng độc đáo cũng để lại trong trí nhớ người đọc thì thơ không vần có chỗ đứng và trở thành hàng “độc”. Tuy vậy trên thế giới này những bài thơ không vần được người đời ghi nhận cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay! Làm thơ không vần cũng giống như đi xiếc trên dây, rất dễ thất bại!
 Bây giờ có người làm thơ in đến bảy tám tập thơ không vần để bắt đọc giả coi đó là thơ siêu việt thì là một điều hoang tưởng!
 Nhiều tác giả cắt, chẻ câu thơ, xuống dòng lên dòng một cách tùy tiện, viết không vần , không điệu một cách lạm phát, đấy chưa phải là sáng tạo ra hình thức thơ mới. Đấy chỉ là sự làm rối rắm lên mà thôi!
  Tôi là người dịch Đường thi, tôi thấy những kiểu thơ bầy giờ nó còn lởm khởm hơn cả bản dịch nghĩa thơ của nước ngoài ra tiếng Việt. Người Việt mình có nhiều cách nghĩ, cách cảm, cách nói phong phú mà nhiều người không phát huy mà còn lược bỏ đi thì thật đáng tiếc!
   Khi đọc bài thơ “ Mẹ sinh tôi” in trên phụ san Thơ  - Báo Văn nghệ năm 2003 của một nhà thơ có câu:
“ Mẹ sinh tôi ra từ dưới đáy xã hội
Cũng từ dưới đáy xã hội, mẹ tôi nuôi tôi lớn lên…”
 Tôi nảy ra ý nghĩ: -  Hai câu thơ này có thể chuyển ra câu thơ lục bát truyền thống của Việt Nam nhưng vẫn không mất ý nghĩa mà còn giản bỏ nhiều từ thừa. Thế là tôi dịch:
“ Mẹ sinh tôi duới đáy đời,
Nuôi tôi khôn lớn nên người hôm nay…”
 Khi đọc khổ thơ của một tác giả khác:
“ Đêm rơi qua dải khăn mây
Gió đợi chờ thơ thác
Nảy đọt yêu thương
Lớn trên tay những mầm khao khát
Khẻ về sắc cỏ thanh miên..”
 Tôi nghĩ là tác giả này có tứ rất là hay, sao không thể hiện cái hay của mình mà đi nói lảm nhảm, thật uổng phí. Tôi liền dịch nó ra thơ Việt:
“Mây đêm buông xuống bất ngờ,
Thơ reo tiếng nhac, gió chờ đợi nhau.
Tình yêu có phép nhiệm màu,
Dồn khao khát nhớ lên đầu ngón tay!...”
  Đến khi đọc Tạp chí Thơ số 5 năm 2006 có bài thơ “Ngươi Dig an” của một nhà thơ :
“Người Di gan không buồn/ chỉ biết hát/ nhiệt cuồng và mê loạn

người Di gan không đau/ chỉ biết múa/ vũ điệu ngã nghiêng phố xá/ rạch rúi làm xiếc diễn tuồng

người Di gan không khóc/ chỉ biết cười/ chào mời đổi chác/ giơ tay xin giơ tay vẫy mặt trời”
    Viết thế là không hiểu con người. Một con người bình thương cũng không phải thế, huống gì cả dân tộc thương khó như dân tộc Di gan. Họ suôt đời lang thang kiếm sống bằng lời ca, điệu múa, họ đau buồn lắm chứ, tôi liền dịch:
“ Người Di gan quên buồn!
Khi họ múa, họ hát.
Nhiệt cuồng và mê thác,
Suốt ngày dài đêm thâu!

Người Di gan quên đau!
Khi họ hát và múa
Vũ điệu nghiêng phường phố,
Thân làm xiếc, diễn tuồng!

Người Di gan thậm buồn!
Tiếng cười thay tiếng khóc
Chào mời và đổi chác
Ngửa tay ăn xin trời!”
     Thế là từ đó, khi đọc các loại thơ trên, tôi thấy bài nào quá tắc tỵ, quá đa ngôn tôi liền dịch ra thơ Việt.  Lúc đầu tôi dịch để tự mình cố hiểu tác giả họ viết gì, hơn nữa khi tôi dịch ra thơ Việt, tôi mới nhớ bài thơ của họ qua bản dịch của tôi. Hầu như bài thơ nào tôi dịch lại tôi đều thuộc, còn đọc nguyên bản dù tôi là người học khoa học tự nhiên tôi không tài nào thuộc được! Sau đó thì đọc cho anh em thân hữu nghe, thay một lời phê bình!
   Khi có Blog, tôi post lên blog chơi, giao lưu với mọi người.
 Tôi được một nửa anh em, bạn bè đồng tình, nhà thơ Nguyễn Trác – Tổng biên tập Tạp chí Nhà văn, nhà thơ Lê Đình Cánh, nhà văn Văn Vinh động viên tôi cứ dịch; một nửa phản đối kịch liệt. Thậm chí khi tôi trích dẫn những câu thơ tục tỉu của các tác giả để phê phán, họ lại vu cho tôi là người làm bẩn thỉu, làm ô uế blog và cảnh cáo blog tôi một tuần, nhưng vì bị sự cố nên bị cấm mất gần một tháng. Tất cả bài vở đều bị delete hết!
   Số đồng tình viết trên blog của tôi, ca ngợi việc làm này! Tôi nhớ có chị Phương Phương, anh Nguyên Hùng, Tùng Bách, Nguyễn Đức Đát, Vương Trọng, Hồ Văn Thiện, Trần Quang Đạo, Nguyễn Hữu Quý…. Họ đều là những nhà thơ cự phách, nhà quản lý kinh tế, nhà khoa học. Anh Nguyên Hùng còn là tiến sỹ khoa học ở Nga, dịch giả thơ Nga!
 Nhiều tác giả tán đồng bảo rằng: - Tôi đã làm rõ nghĩa các bài thơ mà khi đọc nguyển bản, họ không hiểu ra. Nhà thơ Nguyên Hùng viết:
“ Hoan hô bác Đỗ thật cừ,
Dịch Văn Cầm Hải cứ như uống trà.
Nguyên bản em đọc không ra,
Nhờ qua bản dịch biết là thật hay!”

Nhà thơ Tùng Bách viết:
“Kể ra chú cũng hào hoa
Dịch thơ Việt ra thơ Ta tuyệt vời
Riêng vụ “ Hoe chân lời” ( Một bài thơ tắc tỵ của Văn Cầm Hải )
Chú cũng phiên được, khiến tôi phục tài !”.
   Nhà thơ Tùng Bách viết tiếp:
“Đỗ Hoàng là thi sỹ có công đầu trong việc giữ gìn sự trong sáng thơ Việt”.
    Anh Hồ Văn Thiện viết: “Đỗ Hoàng đã làm một công việc tuyệt vời, còn khó hơn dịch thơ Tàu, thơ Tây ra tiếng Việt”
     Ngay nhà thơ Hoàng Vũ Thuật khi tôi dịch bài “Mãi viên trà” của anh ra thơ Việt, anh cũng viết cho tôi: “Đỗ Hoàng dịch như thế là sát nghĩa, vừa sáng tạo lại mà không làm mất nguyên bản, thế cũng là tài hoa!”.
 Nhưng cũng có nhiều ý kiến phản bác, có người viết tên thật, có người nặc danh, “ khủng bố”, viết với một thái độ hằn học quá đáng!
   Ý kiến phản ứng của họ là:- Đỗ Hoàng đã làm một công việc vô bổ, làm trò cười cho thiên hạ, có lẽ ông bị điên hay ông tự quảng cáo mình. Nếu tự quảng cáo thì ông được điểm 9, còn các tác giả ấy họ được điểm 10. Cô Kim Oanh ( Bình Định ), cô Võ Thanh Hoa ( Vũng Tàu ), Khải Nguyên ( không biết ở đâu ) thì gay gắt hơn : “ Mỗi nhà thơ họ có đọc giả của họ, ông có đọc giả của ông, chúng tôi phản đối việc làm của ông! Cảnh cáo blog của ông là một việc làm rất đúng, để răn dạy người khác!”
  Tự tôi, tôi thấy rằng, không chỉ làm thơ mà viết văn, để cho người đọc không hiểu và ngay cả bản thân mình không hiểu là có lỗi với công chúng, đó là chưa kể về sự sai lầm thi pháp, trong tư duy, và quy luật tâm lý tình cảm của con người. Nhà thơ Vương Trọng viết cho tôi:
“ Miệt mài chú dịch thơ Ta
Điên đầu nhức óc để ra cái gì?
Tự mình hành hạ làm chi!
Rồi thì nằm khểnh, thích thì uống bia.
Đặt bày trò nọ, trò kia,
Còn hơn chú định hành nghề dịch chui.
Lung tung họ nói những lời,
Họ còn chẳng hiểu, chú thời hiểu sao?
Chi bằng kệ họ với nhau!”
 Đỗ Phủ đã từng nói: “Thi bất kinh nhân, tử bất hưu” ( Thơ chưa làm xúc động lòng ngươi, chết chưa yên!”
     Cái được, cái không được chỉ chờ độc giả phán quyết! Còn thâm tâm tôi, tôi muốn phân vàng ra thau ra thau!. Đời lừa chúng ta nhiều quá rồi, các nhà thơ không nên lừa người đọc nữa!
 Xin chờ ý kiến của mọi người!

Hà Nội ngày 23 tháng 1 năm 2008
                  Đ - H

 

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 1 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê
  • Đang truy cập16
  • Máy chủ tìm kiếm4
  • Khách viếng thăm12
  • Hôm nay3,202
  • Tháng hiện tại21,308
  • Tổng lượt truy cập8,310,098
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây