Lý Bạch (701 – 762) – Thịnh Đường

Thứ tư - 02/03/2022 07:43
長 相 思 其一
Trường tương tư - kỳ 1 (1)

長 相 思,
Trường tương tư,
在 長 安。
Tại Trường An. (2)
絡 緯 秋 啼 金 井 闌,
Lạc vĩ thu đề kim tỉnh lan,
微 霜 淒 淒 簟 色 寒
Lý Bạch  (701 – 762) – Thịnh Đường

Lý Bạch 
              (701 – 762) – Thịnh Đường
              (Xem tiểu sử đã đăng kỳ trước)
長 相 思  其一 
Trường tương tư -  kỳ 1       

長 相 思,
Trường tương tư,  
在 長 安。
Tại Trường An.  (2)
絡 緯 秋 啼 金 井 闌, 
Lạc vĩ thu đề kim tỉnh lan, 
微 霜 淒 淒 簟 色 寒。
Vi sương thê thê điệm sắc hàn.  
孤 燈 不 明 思 欲 絕,
Cô đăng bất minh tứ dục tuyệt, 
卷 帷 望 月 空 長 嘆。
Quyển duy vọng nguyệt không trường thán.  
美 人 如 花 隔 雲 端,
Mỹ nhân như hoa cách vân đoan,  
上 有 青 冥 之 高 天,
Thượng hữu thanh minh chi cao thiên,  
下 有 淥 水 之 波 瀾。
Hạ hữu lục thuỷ chi ba lan. 
天 長 路 遠 魂 飛 苦,
Thiên trường địa viễn hồn phi khổ,  
夢 魂 不 到 關 山 難 。
Mộng hồn bất đáo quan san nan. 
長 相 思,
Trường tương tư,  
摧 心 肝。
Tồi tâm can.

 * Dịch nghĩa :
Nhớ nhau hoài  - Bài 1      (1)

Nhớ nhau hoài, 
Tại Trường An. (2)
Guồng tơ quay vọng ra tiếng thu bên lan can giếng vàng,
Sương nhẹ rơi lạnh lẽo trên sắc chiếu tre.
Ngọn đèn cô quạnh không đủ sáng, nỗi nhớ muốn làm đứt đường tơ,
Cuốn rèm, trông lên vầng trăng trên không gian buông tiếng than dài.
Người đẹp như hoa bị che khuất sau áng mây,
Bên trên có sắc đen u ám của trời cao,
Bên dưới có dòng nước xanh lục nổi sóng.
Trời dài đất rộng khiến tâm hồn khổ đau chất ngất,
Mộng hồn không đến được nơi quan san hiểm trở.
Nhớ nhau hoài,
Nát cả ruột gan.
    

•    Dịch thơ:
+ Bản 1:
Nhớ nhau hoài  - Bài 1

Nhớ nhau hoài, 
Tại Trường An. 
Tơ dệt tiếng thu bên giếng vàng,
Sương nhẹ lạnh rơi trên chiếu trúc.
Đèn mờ cô lẻ , sầu tơ đứt,
Cuốn rèm trông trăng chợt thở dài.
Người đẹp như hoa mây che khuất,
Trên cao chợt thoáng sắc âm u,
Dưới sâu sóng gợn dòng nước lục.
Đất rộng trời dài, đau chất ngất,
Mộng hồn không đến được quan san.
Nhớ nhau đằng đẵng,
Lòng nát tan.
           

Chú thích:
(1) Trường tương tư: Tên một khúc hát được soạn ra từ thời Lục triều ( 222 – 589).
(2)Trường An: Tên kinh đô đầu tiên có từ thời cổ đại Trung Quốc ở tinh Thiểm Tây , đã trải qua 10 triều đại, trong số đó nổi tiếng nhất là thời nhà Hán và nhà Đường.

+ Bản dịch 2:
Nhớ nhau hoài  - Bài 1

 Trường An thiếp mãi tương tư,
Guồng tơ vọng lại tiếng thu giếng vàng.
Sương buông lạnh lẽo chiếu đan,
Đèn mờ, nỗi nhớ để làn tơ rơi.
Cuốn rèm trông đến phương trời,
Thở dài nhìn ánh trăng soi mượt mà.
Mỹ nhân đẹp tựa như hoa,
Mây che khuất bóng nhạt nhòa khuôn trăng.
Trên không chợt thoáng tối tăm,
Dưới sâu nước lục gợn dòng sóng xao.
Hỏi cùng đất rộng trời cao,
Khổ đau chất ngất phương nào chinh lang.
Mộng hồn cách trở quan san,
Nhớ nhau đằng đẵng ruột gan rã rời.
    

   長相思其二
Trường tương tư - kỳ 2    

日 色 欲 盡 花 含 煙,
Nhật sắc dục tận hoa hàm yên,  
月 明 如 素 愁 不 眠。
Nguyệt minh như tố sầu bất miên.  
趙 瑟 初 停 鳳 凰 柱
Triệu sắt (1) sơ đình phụng hoàng trụ,(2) 
蜀 琴 欲 奏 鴛 鴦 絃。
Thục cầm(3) dục tấu uyên ương huyền. (4)  
此 曲 有 意 無 人 傳,
Thử khúc hữu ý vô nhân truyền, 
願 隨 春 風 寄 燕 然。
Nguyện tuỳ xuân phong ký Yên Nhiên. (5) 
憶 君 迢 迢 隔 青 天,
Ức quân thiều thiều cách thanh thiên,  
昔 時 橫 波 目, 
Tích thì hoành ba mục, 
今 作 流 淚 泉。 
Kim tác lưu lệ tuyền. 
不 信 妾 腸 斷, 
Bất tín thiếp trường đoạn, 
歸 來 看 取 明 鏡 前。
Qui lai khán thủ minh kính tiền.

  + Dịch nghĩa :
Nhớ nhau hoài  - Bài 2

Sắc mặt trời lặn tắt, hoa ngậm khói,
Trăng sáng như lụa, nỗi sầu thao thức miên man.
Cây đàn sắt nước Triệu vừa ngưng trục phượng hoàng,
Đàn cầm nước Thục lại muốn trổi dây uyên ương.
Khúc đàn này có tình ý mà không có người để truyền đạt lại,
Thiếp muốn gửi theo gió xuân đưa đến chốn Yên Nhiên. (1)
Nhớ chàng dằng dặc cách chốn trời xanh,
Ngày xưa sóng mắt đưa ngang,
Nay làm thành suối lệ tuôn chảy.
Nếu không tin thiếp đứt ruột,
Hãy về cùng ngắm trước tấm gương trong.
             
    Dịch thơ:
+ Bản dịch 1:
Nhớ nhau hoài  - Bài 2

Trời ngả hoàng hôn, hoa ngậm khói,
Ánh trăng như lụa, sầu miên man.
Đàn Triệu (1) vừa ngưng trục phượng hoàng, (2)
Uyên ương (3) lại trổi dây đàn Thục. (4)
Khúc này tình ý không người truyền,
Muốn gửi gió xuân đến Yên Nhiên. (5)
Nhớ chàng dằng dặc phương trời thẳm,
Ngày xưa sóng mắt ngang tầm ngắm,
Nay thành suối lệ mạch sầu tuôn.
Nếu không tin thiếp đau đứt ruột,
Hãy về cùng ngắm trước đài gương.
                   
 Bản dịch 2:
Nhớ nhau hoài  - Bài 2

Hoàng hôn, hoa ngậm khói sương,
Ánh trăng như lụa để buồn miên man.
Sắt cầm ngưng phiếm phượng hoàng,
Tiếp dây đàn Thục trổi làn uyên ương.
Khúc này đầy ý vấn vương,
Mà không người để trao truyền tình quân.
Bồi hồi muốn mượn gió xuân,
Đến Yên Nhiên gửi nỗi lòng xa xôi.
Nhớ chàng dằng dặc không nguôi,
Trời xanh thăm thẳm chia đôi lỡ làng.
Ngày xưa sóng mắt trao ngang,
Nay thành suối lệ hàng hàng sầu tuôn.
Không tin thiếp khổ đoạn trường,
Hãy về ngắm trước đài gương soi cùng.
                 
(1) Triệu sắt: 趙瑟:Cây đàn sắt của nước Triệu (403 TCN–222 TCN) thời Chiến Quốc , gọi tắt là đàn Triệu. Theo sách Thế bản thì đàn này  do Bào Hi làm ra đầu tiên có 50 dây. Về sau đàn  đã được đã chế tác lại thành 25 dây.
 (2) Trục phượng hoàng: Phượng hoàng trụ 鳳 凰 柱Trục được khắc hình chim phượng hoàng, (hay còn gọi là phụng hoàng). Đây là loài chim thuộc  một trong bốn  biểu tượng tứ linh (long, lân, qui, phụng)  của Trung Quốc và một số nước khác.
    Cách đây khoảng 2200 năm, vào thời nhà Hán, người ta đã sử dụng biểu tượng Phượng Hoàng cho ý nghĩa hạnh phúc, trang nhã, đức hạnh...  Phượng là con chim trống và Hoàng là con chim mái quay mặt vào nhau thể hiện sự hòa hợp âm dương, sự quan hệ hạnh phúc giữa chồng và vợ.
(3)Thục cầm: 蜀琴 Đàn đất Thục, loại đàn có 7 dây. 
Theo sự tích thì Tư Mã Tương Như (179 tr.CN - 117 tr.CN)- người đất Thục ở thời Tây Hán đã chơi loại đàn này hay nổi tiếng. 
(4)    Uyên ương huyền: 鴛鴦絃 Dây Uyên Ương.
Uyên là loài chim giống vịt trời, con trống được gọi là Uyên, chim mái được gọi là Ương. Loài chim này lúc nào cũng đi có đôi với nhau nên biểu hiện cho tình vợ chồng thắm thiết. Dây uyên ương ở đây được hiểu: dây trống (dây to) là uyên và dây mái (dây nhỏ) là ương, hình thể lớn nhỏ của dây còn mang biểu tượng âm dương theo dịch học và có liên quan đến ý nghĩa uyên ương đã nêu. 
(5)Yên Nhiên: Tên một ngọn núi, còn gọi là Yên Chi Sơn. ở huyện Tuyên Hoá, thuộc Sát Cáp Nhĩ.Theo Hậu Hán thư thì núi này cách nơi quan ải đến ba nghìn dặm.
(tham khảo theo các tư liệu  của Bách khoa tri thức, Bách khoa toàn thư và một số sách khác)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê
  • Đang truy cập11
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm10
  • Hôm nay2,389
  • Tháng hiện tại2,643
  • Tổng lượt truy cập8,291,433
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây